TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ TÂY HÒA


Điều kiện TN-KT-XH

1. Về kinh tế – quốc phòng:

Bản đồ hành chính Xã Tây Hòa thể hiện rõ nét đặc điểm địa lý và hệ thống giao thông của khu vực, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng định vị và lập kế hoạch phát triển. Với địa hình đa dạng bao gồm đồng bằng và vùng đồi núi thấp, tạo nên một cảnh quan phong phú. Vị trí gần đường cao tốc Bắc – Nam và các tuyến giao thông trọng điểm giúp xã này có tiềm năng lớn trong việc kết nối với các khu vực lân cận.

  • Địa hình đa dạng: Xã Tây Hòa có địa hình kết hợp giữa đồng bằng phù sa ở phía bắc, thuận lợi cho nông nghiệp lúa nước, và vùng đồi núi thấp ở phía nam với độ cao trung bình 500-600m. Các khu vực như Hòa Phong và Hòa Tân Tây có những ngọn núi như Hòn Chùa (1.310m) và Hòn Chảo (742m), tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái và nông nghiệp cây công nghiệp.
  • Hệ thống giao thông: Xã Tây Hòa được hưởng lợi từ vị trí gần đường cao tốc Chí Thạnh – Vân Phong, kết nối với các khu vực như phường Phú Yên,  xã Đông Hòa  Các tuyến đường nội xã cũng được cải tạo, đảm bảo giao thông thông suốt, hỗ trợ vận chuyển nông sản và giao thương giữa các thôn trong xã.
  • Kết nối vùng: Xã Tây Hòa giáp với xã Phú Hòa, Xã Sơn Thành ở phía tây. Sự kết nối này giúp xã dễ dàng giao lưu kinh tế và văn hóa với các khu vực lân cận, đặc biệt thông qua các tuyến đường tỉnh lộ và quốc lộ 25, 29.
  • Tài nguyên thiên nhiên: Ngoài địa hình, Xã Tây Hòa còn sở hữu các nguồn tài nguyên như đất đỏ bazan phù hợp cho cây công nghiệp và các khu vực đồng bằng trồng lúa. Các khu vực này được thể hiện chi tiết trên bản đồ hành chính, hỗ trợ việc quy hoạch sử dụng đất hiệu quả.

2. Về thời tiết: Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 01 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 26,6 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.900 – 2.300mm. Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, tạo thuận lợi cho phát triển nông – lâm nghiệp, hình thành các vùng sản xuất tập trung, chất lượng cao hướng tới xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến.

3. Về nguồn nước:Vấn đề cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt là bài toán nan giải ở nhiều địa phương trong Tỉnh cũng như các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên. Tây Hòa có 02 sông lớn là Sông Ba và sông Bánh Lái chảy qua địa bàn, nguồn nước phong phú, ngoài phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân địa phương còn có thể cung cấp nước cho  các vùng lân cận.

4. Về đất đai: Theo số liệu thống kê năm 2023, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 62.617,4ha. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp 55.096,1 ha, chiếm 87,99% (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 16.306,3, đất lâm nghiệp có rừng 38.703,1ha, đất nuôi trồng thủy sản 52,4 ha, đất nông nghiệp khác 34,4 ha); đất phi nông nghiệp 7.187,3ha, chiếm 11,48%; đất chưa sử dụng 334,02ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên.

Nằm ở hạ lưu sông Ba và sông Bánh Lái, lượng phù sa bồi đắp lớn, màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng; mặt khác, diện tích đất chưa sử dụng có khả năng đưa vào sản xuất còn lớn (334,02ha), tạo lợi thế cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển toàn diện.

5. Thế mạnh phát triển các ngành kinh tế:

– Hiện nay huyện đang tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thực hiện theo chuỗi giá trị, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, chương trình OCOP gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Ngoài ra, còn đẩy mạnh phát triển, mở rộng diện tích trồng một số cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: Cây mía, cây hồ tiêu,… và một số cây ăn quả ở các xã miền núi.

– Kết cấu hạ tầng của huyện từng năm được quan tâm đầu tư xây dựng; trong đó, tập trung đầu tư xây dựng các công trình động lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

– Bên cạnh những thế mạnh về phát triển nông nghiệp, công nghiệp, Tây Hòa còn có tiềm năng rất lớn về du lịch, một số danh lam thắng cảnh, với nhiều hang động, rừng tự nhiên, hồ, thác và suối rất đẹp, hữu tình, đây là những lợi thế để huyện kêu gọi đầu tư phát triển các loại hình du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, tắm bùn chữa bệnh… Các công trình trên sẽ phát huy hiệu quả với tính chất lịch sử, tính giáo dục, gắn kết với các sinh hoạt chính trị, các hoạt động văn hóa ở địa phương và các hoạt động về du lịch. Đến tháng 01/2025, theo thống kê chưa đầy đủ, toàn huyện có trên 30 di tích văn hóa vật thể và nhiều di sản văn hóa phi vật thể, trong đó:

Di tích lịch sử chiến thắng đường 5, nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt từ ngày 19/3 đến ngày 25/3/1975 của quân và dân huyện Tuy Hòa khi địch tháo chạy từ Buôn Mê Thuột về đồng bằng theo kế hoạch “Rút lui chiến lược” của Mỹ – Thiệu, góp phần làm nên Đại thắng Lịch sử mùa Xuân năm 1975 của Đất nước.

Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 1543/QĐ-VH, ngày 18/6/1997.

 Di tích lịch sử Địa điểm diễn ra trận chiến đấu chống càn xã Hòa Tân năm 1967 (thôn Xuân Thạnh, xã Hòa Tân Tây, Tây Hòa).

Địa điểm diễn ra trận chiến đấu chống càn xã Hòa Tân năm 1967, là nơi ngăn chặn và đánh tan âm mưu của địch sử dụng “Vòng vây ba tròng” gồm bộ binh, xe tăng và mìn tiến vào hai thôn Xuân Thạnh, Hội Cư để tấn công lực lượng của quân và dân ta trong 3 ngày 19, 20 và rạng sáng 22/9/1967. Qua hơn 10 ngày đêm chiến đấu ròng rã, với tinh thần anh dũng, kiên cường, quân và dân ta đã tiêu diệt được 215 tên địch (trong đó có 2 cố vấn Mỹ), cháy 2 xe M113 và 1 trực thăng. Trong trận chống càn này đã có 94 đồng chí là cán bộ, chiến sỹ, dân quân du kích của ta hy sinh.

Nhà bia tưởng niệm trận chiến đấu chống càn Hòa Tân tại xã  Tây Hòa, được xây dựng, ghi nhớ công lao của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Đặc công 14, Đại đội 377 huyện Tuy Hòa cũ cùng với cán bộ, du kích và nhân dân  Hòa Tân không ngại gian khổ đã bám trụ, chiến đấu kiên cường trong trận chiến chống càn khốc liệt diễn ra từ ngày 16-9 đến ngày 27-9-1967 tại 3 thôn Hội Cư, Cảnh Phước, Xuân Thạnh.

Đây là một trong những công trình lịch sử văn hóa  xây dựng 27 bia chiến công ghi nhớ những trận đánh tiêu biểu, vinh danh chiến công của quân và dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Di tích được UBND tỉnh Phú Yên công nhận tại Quyết định số 1760/QĐ-UBND ngày 11/9/2017.

+ (8) Di tích Đình Mỹ Thạnh (còn gọi là lẫm Cổ Lầu) tại thôn Mỹ Thạnh Trung 1, xã Hòa Phong: Đình Mỹ Thạnh là chứng tích vật chất liên quan về quá trình hình thành thôn Mỹ Thạnh (nay là các thôn Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Nam, Mỹ Thạnh Trung 1, Mỹ Thạnh Trung 2, Mỹ Thạnh Đông 1, Mỹ Thạnh Đông 2) nói riêng cũng như cộng đồng dân cư người Việt tại khu vực đồng bằng Tuy Hoà.

Đình Mỹ Thạnh có thể được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVII, tức là ngay sau khi thành lập thôn Mỹ Thạnh, đây là nơi thờ tự Thành Hoàng của thôn, là nơi chứa đựng sắc thần của các vị thần được Nhân dân tôn thờ. Đình của thôn là nơi diễn ra hoạt động tế lễ của thôn vào các dịp đầu năm (cúng Xuân) và giữa năm (cúng Thu) mà dân gian thường gọi là “Xuân kỳ, Thu tế”. Mục đích của việc tế lễ là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, vạn vật sinh sôi, muôn nhà đều bình an, no ấm.  Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngôi đình đã bị hư hại. Đến năm 1989, do đình bị xuống cấp nặng nề nên công trình kiến trúc này đã được dỡ bỏ. Đến năm 2017, Nhân dân địa phương đã đóng góp công sức và kinh phí để xây dựng lại đình trên nền di tích cũ để tiếp tục làm nơi phục vụ hoạt động tín ngưỡng tâm linh của thôn. Đình Mỹ Thạnh là một công trình được xây dựng bằng bê tông cốt thép có chất lượng về kỹ thuật cũng như có giá trị về thẩm mỹ. Hiện nay tại đình Mỹ Thạnh chỉ còn 2 sắc phong có từ thời vua Khải Định năm thứ 9, một số bộ phận kiến trúc có chạm khắc hoa văn, 2 cột gỗ của ngôi đình cũ được giữ lại sau khi đình bị sụp đổ. Ngoài ra, tại đình còn một số đồ thờ tự mới bằng gỗ được mua sắm sau khi đình mới được xây dựng và đưa vào hoạt động.

Sinh hoạt văn hóa quan trọng nhất diễn ra tại đình Mỹ Thạnh là lễ cúng đình tổ chức vào ngày 16 tháng Tám (Âm lịch) hàng năm với nghi thức trang trọng và đông đảo Nhân dân trong thôn tham gia.

Di tích được UBND tỉnh Phú Yên công nhận tại Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 30/01/2024.

+ (9) Di tích Nhà thờ Lê Trung Lập (thôn Phú Khánh, xã Hoà Tân Tây): Nhà thờ Lê Trung Lập là chứng tích vật chất liên quan đến nhân vật lịch sử Lê Trung Lập, người đã có công lao to lớn trong việc di dân, lập ấp, tạo ra nhiều tụ điểm dân cư và mở mang diện tích canh tác ở vùng đồng bằng Tuy Hòa vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhân vật lịch sử Lê Trung Lập lúc nhỏ có tên là Lê Trung Vĩnh, sinh năm Giáp Thìn 1844, tại thôn Hội Cư, tổng Hòa Lạc, huyện Tuy Hòa (nay là thôn Hội Cư, xã Hòa Tân Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên). Ông xuất thân trong một gia tộc đã qua nhiều đời định cư tại địa phương và có nền tảng kinh tế khá vững chắc, năm Tự Đức thứ 36 (1883), Lê Trung Lập được quan Bố chính tỉnh Phú Yên cấp bằng Quản mộ, ông tự xuất tiền nhà, chiêu mộ và tổ chức dân chúng tiến hành khai khẩn những vùng đất dọc theo chân núi tại dãy núi phía nam của phủ Tuy Hòa (nay là dãy Đèo Cả), đây là những vùng đất hoang vu, đầm lầy, nhiều thú dữ,… mà những lớp người đi trước chưa khai phá được. Năm Thành Thái thứ 8 (1896), Lê Trung Lập được bổ nhiệm làm Chánh tổng Tuy Lộc, sau là tổng Hòa Lộc với 8 thôn, năm 1899 ông thiết lập thêm thôn Hội Khánh, nhập vào tổng Hòa Lạc và đưa gia đình về đây sinh sống, phát triển thêm chi phái họ Lê tại thôn này. Thôn Hội Khánh sau sáp nhập với các thôn Phú Quý, Phú Lạc lấy tên là thôn Phú Khánh, đây chính là thôn Phú Khánh, xã Hòa Tân Tây ngày nay.

Để ghi nhận và biểu dương người có công trong việc thực hiện chính sách khẩn hoang, năm Khải Định thứ 4 (1919), Lê Trung Lập được triều đình thưởng thụ Chánh Bát phẩm văn giai. Ông qua đời ngày 14/7 năm Kỷ Mùi (1919), đến năm Khải Định thứ 9 (1924), ông được triều đình ban sắc phong Khai canh chi thần. Sau khi ông qua đời, ông được Nhân dân thôn Hội Khánh và các thôn trong tổng Hòa Lộc tôn ông là Tiền hiền khai khẩn.

Hiện nay, Nhà thờ Lê Trung Lập tọa lạc tại thôn Phú Khánh, xã Hòa Tân Tây với diện tích khoảng 200m2, trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ được hậu duệ họ Lê xây dựng lại vào năm 1976. Nơi đây hiện còn lưu giữ bản sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 – phong ông là Khai canh chi thần; các văn bản bằng chữ Hán Nôm liên quan việc cấp bằng Quản mộ, bổ nhiệm làm Chánh tổng, phong tặng Chánh Bát phẩm văn giai; văn bản kê khai công tích, trình thẩm xét viết năm 1918 do ông Lê Trung Lập ký tên;… Đây là nguồn tư liệu quan trọng, làm cơ sở để tìm hiểu về nhân vật Lê Trung Lập và quá trình khai phá, thành lập tổng Hòa Lộc.

Di tích được UBND tỉnh Phú Yên công nhận tại Quyết định số 165/QĐ-UBND ngày 05/02/2024.

 Di tích Đình Phước Thịnh (còn gọi là đình Con Rồng) thôn Phú Thứ: Vào đầu thế kỷ XIX đơn vị hành chính này có tên là Phước Thịnh Thái Bình thôn, nằm trong tổng trung của huyện Tuy Hòa cũ. Tổ tiên dòng họ Võ ở Phước Thịnh là những người có công đầu trong việc tạo lập nên thôn Phước Thịnh. Theo đó cụ Võ Văn Dung là thủy tổ dòng họ Võ ở Phước Thịnh từ vùng Phú Điềm (xã An Hòa Hải, huyện Tuy An hiện nay) đến định cư lập nghiệp ở Phước Thịnh vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Hậu duệ của cụ Võ Văn Dung là Võ Văn Đán từng phục vụ trong quân ngũ dưới thời vua Minh Mạng và được sắc phong Cửu phẩm. Thế nên họ Võ được xem là dòng họ Tiền hiền ở Phước Thịnh. Sau họ Võ các dòng họ khác như Trần, Lê, Nguyễn… cùng đến Phước Thịnh lập nghiệp tạo nên một tụ điểm dân cư đông đúc. Trên địa bàn Phước Thịnh còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa được hình thành qua nhiều thời kỳ khác nhau. Ngoài ra tại Phước Thịnh còn một số địa danh như Bàu Quay, Cồn Cát Cao được hình thành từ dòng chảy của sông Đà Rằng được nhiều người ở vùng đồng bằng Tuy Hòa biết đến.

Đình Phước Thịnh có thể được xây dựng từ thế kỷ XVIII, đình đã di chuyển nhiều lần, đến khoảng năm 1960 thì chuyển về vị trí hiện nay. Từ năm 1960 đình được xây dựng lại theo kiểu nhà cấp 4 với tường bao xung quanh bằng gạch, mái lợp ngói tây tồn tại từ đó cho đến nay. Đình Phước Thịnh là chứng tích vật chất về quá trình hình thành cộng đồng dân cư người Việt ở vùng đồng bằng Tuy Hòa trong tiến trình lịch sử. Là nơi bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân cư của thôn Phước Thịnh Thái Bình, rồi thôn Phước Thịnh xưa và khu phố Phước Thịnh nay. Đây cũng là nơi thờ Tiền hiền, Hậu hiền những người đã có công lao khai khẩn lập nên làng sớm. Tại di tích này còn lưu giữ 7 sắc phong từ thời nhà Nguyễn, những sắc phong này có nội dung liên quan đến phong tục, tín ngưỡng của nhân dân địa phương, đây là nguồn tư liệu có giá trị về nhiều mặt để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của thôn Phước Thịnh nói riêng cũng như của vùng đất Phú Yên nói chung.

Di tích được UBND tỉnh Phú Yên công nhận tại Quyết định số 166/QĐ-UBND ngày 05/02/2024.

 

+ Suối Lạnh, thuộc xã Hòa Thịnh, là một địa danh có phong cảnh hữu tình, khí hậu mát, trong lành. Từ lâu suối Lạnh đã thu hút khá đông nhân dân trong và ngoài huyện đến tham quan, tổ chức các buổi giao lưu, gặp mặt bạn bè… Đến với suối Lạnh, ngoài việc tránh được sự ồn ào, náo nhiệt để tận hưởng không khí trong lành, không gian yên tĩnh của rừng núi, nhiều du khách đã ví: có cảm giác như đang bước chân vào cửa ngõ của Thành phố Đà Lạt và còn được trải nghiệm ngâm các lon nước giải khát, bia vào lòng suối tự nhiên sau đó uống mà không cần đá lạnh.

+ Vực Phun, thuộc xã Hòa Mỹ Tây. Ngược lên thượng nguồn sông Bánh Lái, thuộc địa phận xã Hòa Mỹ Tây, sẽ thấy một thác nước của dòng suối Cái cao 15 m tuôn xuống giữa hai bên vách núi rất kỳ vĩ. Dòng nước của con suối đổ xuống vực sâu tạo thành một dòng thác lớn trắng xóa. Dưới vực có nhiều tảng đá lớn khiến nước dội ngược lên rất mạnh. Do vậy, nhìn từ xa ta có cảm giác như nước được phun lên từ lòng vực; có lẽ vì vậy mà dân địa phương đặt tên là Vực Phun. Xung quanh vực là khu rừng nguyên sinh. Ngoài cảm giác thư giãn khi hòa mình vào dòng nước mát lạnh của dòng suối dưới chân thác, cái thú vị là du khách được khám phá những bí ẩn của vùng núi Đá Đen hay men theo đường mòn khám phá thượng nguồn sông Bánh Lái. Vực Phun nằm lọt thỏm trong dãy núi Đá Đen, giữa bạt ngàn rừng cây và đồi núi chập chùng, tạo thành cảnh quan hết sức thơ mộng. Đến đây, du khách không chỉ được thưởng ngoạn cảnh non nước hữu tình mà còn có thể kết hợp nghiên cứu những di tích văn hóa như chùa Hương Tích – một trong những ngôi chùa cổ của tỉnh Phú Yên. Ngoài ra, vùng phong cảnh non nước hữu tình này còn có thể tổ chức nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn như: Tìm hiểu sinh thái núi rừng, leo núi, tắm suối, câu cá, cắm trại…

Hồ Hoóc Răm: Nằm trên nhánh suối Thoại, thuộc làng Tân Định, xã Tây Hòa.  Đây là 1 Hồ thủy lợi đẹp, được xây dựng năm 1995, hoàn thành năm 1997 để phục vụ nước tưới cho trên 200 ha lúa 02 vụ thuộc xứ đồng Minh Lâm; có diện tích lưu vực 6,81 km2, dung tích toàn phần 2,91×106 m3, trong đó dung tích hữu ích 2,64×106 m3. Nhìn từ trên cao hình dáng Hồ giống một mũi lao, một bờ đập dài hơn 50m được xây dựng ở phía Tây Bắc để giữ nước, các mặt còn lại được bao bọc bởi các sườn núi tự nhiên tạo nên một  cảnh quan hết sức thơ mộng và mát mẻ. Phía Nam của Hồ có một hệ thống đập tràn để nước tự chảy qua khi lượng nước trong hồ đạt mức tối đa, hệ thống đập tràn xây dựng bằng đá chẻ tự nhiên lấy trực tiếp tại khu vực và có kết cấu bảy tầng, tạo ra một thác nước nhân tạo tuyệt đẹp khi có nước tràn qua mặt đập. Khu vực phía Nam của Hồ từng là căn cứ hoạt động cách mạng thời kỳ trước năm 1975 với một số hang động và nhiều dấu tích còn sót lại. Xung quanh khu vực Hoóc Răm có rất nhiều rẫy của người dân trồng mít, thơm cùng một số sản vật của rừng theo mùa như: xay, đác, ươi, tràm….

Đến với hồ Hoóc Răm, du khách có thể tổ chức các buổi giao lưu, gặp mặt bạn bè, tận hưởng không khí trong lành để quên đi vất vả, nỗi lo thường nhật cơm, áo, gạo, tiền… khu vực này có thể khai thác phục vụ du lịch khám phá, câu cá, bơi thuyền, chụp ảnh lưu niệm…

– Trong giai đoạn hiện nay: Hiện nay, định hướng của huyện là ưu tiên chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Trước mắt, lĩnh vực nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn để huyện tập trung đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề để phát triển nhanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững gắn với công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp theo vùng nguyên liệu tại chỗ. Trong đó, tập trung đầu tư phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hóa đối với các cây trồng chủ lực của huyện như: Lúa nước, mía, hồ tiêu, sắn…

Chia sẻ: